Posts

Showing posts from March, 2024
Image
  Về nhiệt của phản ứng hóa học Xét theo nhiệt động học, một phản ứng hoá học xảy ra trong một "vũ trụ" (universe), trong đó các chất phản ứng, kể cả các chất trung gian, được gọi là " hệ " (system), toàn bộ phần còn lại được gọi là " môi trường ", hay "môi trường ngoài" (surroundings). Ta lại có " hệ " mở (trao đổi cả vật chất và năng lượng, " hệ " kín (chỉ trao đổi năng lượng), và " hệ " cô lập (không trao đổi gì cả). Với một phản ứng tỏa nhiệt, trong một " hệ " mở cũng như " hệ " kín, thì " hệ " tỏa nhiệt ra " môi trường " nên nhiệt độ của hệ giảm và nhiệt độ của môi trường tăng lên. Đảo lại, với phản ứng thu nhiệt. Bài tập 14.2 (trang 41 sách Bài tập Hóa học lớp 10 của bộ sách Cánh Diều) có câu hỏi và trả lời như sau: Như vậy để chọn phát biểu không đúng , lẽ ra phải là đáp án C và E. Ở đây đáp án lại là B và D là hai phát biểu đúng. Tôi nghĩ có thể hoặc do thông tin bị chệ...
Image
Có thể thay KOH bằng NaOH trong phản ứng tách HX (Elimination) của Alkyl Halide? Tất nhiên là được chứ. Điều này cũng đã có ghi trong sách giáo khoa rồi: Dưới đây là tóm tắt phần trình bày về phản ứng này trong bài của TS Ian Hunt, Khoa Hóa học trường Đại học Calgary, Canada: Tuy nhiên, khi đề cập đến câu hỏi này, tôi lại quan tâm đến một nội dung khác là sự cạnh tranh giữa phải ứng thê và phản ứng tách khi cho alkyl halide (dẫn xuất halogen của alkane) tác dụng với NaOH. Như đã trình bày trong bài giảng, khi cho alkyl halide tác dụng với dung dịch KOH hay NaOH (hiểu là dung dịch loãng), sẽ xảy ra phản ứng thế. Song nếu thực hiện phản ứng với KOH hay NaOH đậm đặc (hoặc KOH/ alcohol như EtOH, MeOH) thi phản ứng tách sẽ ưu tiên xảy ra. Trong thực nghiệm hóa học, không có gì là tuyệt đối cả. Vì thế luôn xảy ra sự cạnh tranh giữa hai phản ứng này, không chỉ tùy thuộc nồng độ và dung môi như đã nêu trên, mà còn tùy thuộc  bậc của dẫn xuất halogen , nghĩa là bậc của carbon mà halogen gắn...
Image
Tản mạn về một bài tập enthalpy trong sách giáo khoa Hóa học lớp 10 Có một bạn hỏi tôi vầ bài tập sau trong sách giáo khoa Hóa học lớp10 (Kết Nối Tri Thức): với lời giài như sau trong sách ấy: Không biết có do in ấn nhầm lẫn hay không khi tác giả ghi đơn vị của Δ f H⁰₂₉₈ của Al₂O₃ là kJ/g·K khi thật ra chỉ có thể là kJ/g. Cố ý ghi enthalpy tạo thành lúc thì kJ/mol, khi lại kJ/g có lẽ nhằm đánh giá xem học sinh có lưu ý về đơn vị hay không, thôi thì cũng được. Tuy nhiên, không cho lượng chất phản ứng mà khi giải tự cho là có 2 mol Al tác dụng với 1 mol Fe₂O₃ thì có phần hơi bất ngờ cho các bạn trẻ đấy!  Khái niệm nhiệt dung không học trong chương trình nên tác giả có giải thích để đánh giá khả năng đọc-hiểu-áp dụng của học sinh. Như thế rất tốt, chỉ tiếc là lại nhầm nữa. Định nghĩa tác giả nêu trong đề bài là của nhiệt dung riêng , chứ không phải nhiệt dung . Thật vậy: Nhiệt dung riêng (thường ký hiệt là c  hoặc c p ) là lượng nhiệt cấn cung cấp để 1 g chất ấy tăng lên ...
Image
  So sánh tính base của Aniline và Pyridine Do pK b của aniline (C 6 H 5 NH 2 ) khoảng 9,4, và của pyridine (C 5 H 5 N) khoảng 8,8 nên hiển nhiên pyridine có tính base mạnh hơn. Theo Bronsted-Lowry, base mạnh hơn có nghĩa là pyridine dễ kết hợp với proton H⁺ hơn. Điều này có thể giải thích dựa trên cấu tạo phân tử (vì cấu tạo quyết định tính chất). Thật vậy, amine thể hiện tính base do cặp electron độc thân (hay cặp electron hóa trị riêng) có thể kết hợp với proton H⁺: Trong pyridine, cặp electron độc thân này không tham gia vào hệ liên hợp thơm nên tương đối tự do và dễ kết hợp với proton H⁺ hơn, nên tính base mạnh hơn: Đảo lại, cặp electron độc thân trên nitrogen của nhóm amine –NH₂ trong trường hợp aniline liên kết trực tiếp với vòng benzene nên không còn tự do, vì tham gia cộng hưởng với nhân thơm nên sẽ khó tạo liên kết với proton H⁺ dẫn đến tính base yếu hơn. Tóm lại, tính base mạnh hơn của pyridine so với aniline là do cấu tạo hóa học của aniline, hay chính xác là do cặp el...
Image
  Khối phổ (MS): M+1, M+2,...? © Nguyễn Trọng Thọ Trước hết, cần làm quen với thực nghiệm hóa học, như trong hóa học phân tích, cụ thể là các loại phổ. Đây là thực nghiệm, nên không phải là lý thuyết, nói cách khác, không chắc tất cả đã 100% chính xác. Nếu các bạn quan sát các phổ hồng ngoại (IR) của cùng một chất, rất có thể sẽ khác nhau đôi chút. Đó chính là thực nghiệm. Ta có thể thực hiện một mẫu phân tích, chia đôi, rồi cho phân tích trên mày kế tiếp nhau thì kết quả chắc chắn không giống hệt nhau. Như thế mới đúng là hóa học phân tích. Tuy nhiên, các khối phổ minh họa trong các bài học thường được vẽ lại để chỉ chọn các peak hoặc quan trong, hoặc có thể giải thích được để thích hợp với giảng dạy. Ví dụ như khối phổ của caffeine mà có bạn thắc mắc về sự hiện diên của các peak 195 (hay M+1), 196 (hay (M+2) lớn hơn peak ion phân tử là 194 (M). Công thức cấu tạo của caffeine: Như đã giải thích trước đây trong bài giảng, trường hợp peak có m/z = M + 1 (nghĩa là peak 195 trong trườ...
Image
Phenol: tư liệu an toàn (& sơ/cấp cứu) © Nguyễn Trọng Thọ Khi bị phỏng phenol, vì cho rằng đây là một acid nên một số tác giả đề nghị sơ cứu với xà phòng (có tình kiềm), thậm chí còn nghĩ đến sử dụng dung dịch base để trung hòa acid! Thoạt nhìn thì có vẻ rất hợp lí, song thực ra là hơi thiếu trách nhiệm. Thật vậy, chúng ta không biết là lượng phenol dây trên da nạn nhân là bao nhiêu, và cũng không có cách nào để biết, vì thế dùng base trong trường hợp này không chừng lại gây thêm tổn thương cho vùng vốn đã tổn thương trước đó vì phenol. Chưa kể là base còn có thể đi qua lớp biểu bì, thúc đẩy quá trình thủy phân protein bên trong... Đó là lý do mà trong các tài liệu chính thức về an toàn và cấp cứu liên quan đến phenol, người ta khuyến cáo sử dụng PEG (polyethylene glycol). Nếu không có PEG, thì chỉ đơn giản là rửa liên tục với nước trên 30 phút và gọi cấp cứu y tế. Vai trò của PEG là hòa tan phenol nhanh chóng, giúp làm giảm nồng độ phenol trên vết thương, đồng thời tách phenol ra ...
Image
  Tốc độ phản ứng, tốc độ tiêu hao, tốc độ tạo thành…   © Nguyễn Trọng Thọ Cần phân biệt các khái niệm cũng như cách tính tốc độ phản ứng , tốc độ tiêu hao , tốc độ tạo thành … vì chúng khác nhau. Ví dụ xét phản ứng: 2CO(𝑔) + 2NO(𝑔) → 2CO 2 (𝑔) + N 2 (𝑔)   Tốc độ phản ứng (trung bình):     Xét với CO 2 chẳng hạn, thì: Tốc độ phản ứng (trung bình): Tốc độ tạo thành CO 2 :                                                                                      Hai giá trị trên khác nhau. Với NO, N 2 : Tốc độ tiêu hao NO: Tốc độ tạo thành N 2 :   Trong trường hợp này, tốc độ tiêu hao của NO sẽ gấp đôi tốc độ tạo thành của N 2 , và cũng gấp đôi tốc độ phản ứng. Thật vậy, giả sử sau 5s, đã có 0,1M CO phản...